Hai loại trợ cấp dễ nhầm lẫn khi chấm dứt hợp đồng

Khi quan hệ lao động kết thúc, người lao động thường quan tâm tới khoản tiền mình được nhận, nhưng lại dễ nhầm lẫn giữa hai chế định hoàn toàn khác nhau: trợ cấp thôi việctrợ cấp mất việc làm. Đây không phải là hai tên gọi của cùng một khoản tiền, mà là hai chế độ độc lập, áp dụng cho những nhóm trường hợp chấm dứt hợp đồng khác nhau, có mức tính và điều kiện phát sinh không giống nhau. Sự nhầm lẫn này khiến nhiều người lao động không yêu cầu đúng quyền lợi của mình, trong khi không ít doanh nghiệp lại chi trả sai loại, sai mức, dẫn đến tranh chấp lao động sau này.

Bài viết phân tích bản chất pháp lý, căn cứ áp dụng và cách tính của từng loại trợ cấp theo pháp luật lao động hiện hành, đồng thời chỉ ra những điểm mấu chốt mà cả người lao động và người sử dụng lao động cần lưu ý.

Căn cứ pháp lý điều chỉnh hai loại trợ cấp

Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm được quy định trực tiếp trong Bộ luật Lao động 2019. Cụ thể, Điều 46 điều chỉnh trợ cấp thôi việc, Điều 47 điều chỉnh trợ cấp mất việc làm. Bên cạnh đó, Điều 42 và Điều 43 Bộ luật Lao động 2019 quy định nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế và khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp — đây chính là những căn cứ làm phát sinh trợ cấp mất việc làm. Điều 48 Bộ luật Lao động 2019 quy định trách nhiệm và thời hạn thanh toán các khoản khi chấm dứt hợp đồng.

Cách xác định thời gian làm việc và tiền lương để tính trợ cấp được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP (điển hình là Điều 8). Do các văn bản hướng dẫn có thể được sửa đổi, người lao động và doanh nghiệp nên đối chiếu quy định mới nhất tại thời điểm tính toán để bảo đảm chính xác.

Trợ cấp thôi việc: bản chất và cách tính

Trợ cấp thôi việc áp dụng cho các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động mang tính "thông thường", tức không xuất phát từ việc doanh nghiệp buộc phải cắt giảm lao động. Theo Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên khi hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp như: hết hạn hợp đồng; đã hoàn thành công việc theo hợp đồng; hai bên thỏa thuận chấm dứt; người lao động hoặc người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp pháp; hoặc người sử dụng lao động chấm dứt do một số lý do khách quan luật định.

Nguyên tắc tính cơ bản gồm:

  • Mức trợ cấp: mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.
  • Thời gian làm việc để tính trợ cấp = tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đó.
  • Tiền lương để tính trợ cấp là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.
  • Thời gian làm việc có tháng lẻ thường được làm tròn: từ đủ 06 tháng trở xuống tính bằng nửa năm, trên 06 tháng tính bằng một năm.

Trợ cấp thôi việc không áp dụng khi người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu, hoặc khi người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng theo quy định. Đây là điểm quan trọng vì nhiều người mặc định cứ nghỉ việc là được trợ cấp.

Trợ cấp mất việc làm: khi nào phát sinh, mức cao hơn ra sao

Trợ cấp mất việc làm mang bản chất "bù đắp" cho người lao động bị mất việc ngoài ý muốn do những nguyên nhân xuất phát từ phía doanh nghiệp. Theo Điều 47 Bộ luật Lao động 2019, khoản này phát sinh khi người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên nhưng bị mất việc do:

  • Thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế (Điều 42).
  • Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản (Điều 43) dẫn đến phải cho người lao động thôi việc.

Nguyên tắc tính:

  • Mức trợ cấp: mỗi năm làm việc trả một tháng tiền lương (gấp đôi trợ cấp thôi việc), nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương.
  • Cách xác định thời gian làm việc và tiền lương bình quân tương tự trợ cấp thôi việc (vẫn trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp).

Như vậy, với cùng một khoảng thời gian làm việc được tính, trợ cấp mất việc làm cao hơn hẳn trợ cấp thôi việc. Điều này phản ánh chính sách bảo vệ người lao động rơi vào tình cảnh mất việc không do lỗi của mình. Trước khi cho thôi việc theo Điều 42, doanh nghiệp còn phải xây dựng phương án sử dụng lao động và trao đổi với tổ chức đại diện người lao động, nếu không sẽ đối mặt rủi ro chấm dứt trái luật.

Bảng so sánh nhanh hai loại trợ cấp

Tiêu chíTrợ cấp thôi việcTrợ cấp mất việc làm
Căn cứĐiều 46 BLLĐ 2019Điều 47 BLLĐ 2019 (gắn Điều 42, 43)
Trường hợp áp dụngChấm dứt thông thường (hết hạn, thỏa thuận, đơn phương hợp pháp...)Mất việc do cơ cấu, công nghệ, lý do kinh tế, chia tách sáp nhập
Điều kiện thời gianLàm việc thường xuyên đủ 12 tháng trở lênLàm việc thường xuyên đủ 12 tháng trở lên
Mức mỗi năm làm việc1/2 tháng tiền lương1 tháng tiền lương
Mức tối thiểuKhông đặt mức sàn riêngÍt nhất 02 tháng tiền lương
Tiền lương tínhBình quân 06 tháng liền kềBình quân 06 tháng liền kề

Các con số trên căn cứ quy định hiện hành; khi áp dụng thực tế cần đối chiếu văn bản mới nhất và hồ sơ cụ thể.

Lưu ý thực tiễn và rủi ro thường gặp

Điểm khiến nhiều người bất ngờ là khoản trợ cấp thực nhận thường nhỏ hơn kỳ vọng. Nguyên nhân là phần lớn thời gian làm việc gần đây của người lao động đã được tham gia bảo hiểm thất nghiệp, mà thời gian này bị loại trừ khi tính trợ cấp thôi việc, mất việc. Do đó, phần được tính chủ yếu rơi vào giai đoạn trước khi người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Người lao động nên đối chiếu quá trình đóng bảo hiểm để xác định đúng số năm được tính.

Về thời hạn chi trả, theo Điều 48 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản liên quan trong thời hạn luật định kể từ ngày chấm dứt hợp đồng (thông thường là 14 ngày làm việc, có thể kéo dài trong một số trường hợp đặc biệt). Chậm chi trả có thể làm phát sinh trách nhiệm của doanh nghiệp.

Để chấm dứt hợp đồng đúng cách và xác định đúng loại trợ cấp áp dụng, bạn có thể tham khảo các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động 2019quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao động. Các nội dung liên quan có trong chuyên mục hợp đồng lao động.

Câu hỏi thường gặp

Nghỉ việc là chắc chắn được trợ cấp thôi việc?

Không hẳn. Trợ cấp thôi việc chỉ áp dụng khi thuộc trường hợp luật định tại Điều 46 và người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên. Ngoài ra, phần thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bị loại trừ, nên nhiều trường hợp khoản trợ cấp rất nhỏ hoặc không phát sinh.

Bị cho nghỉ vì công ty thu hẹp sản xuất thì hưởng khoản nào?

Nếu việc thu hẹp thuộc trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế theo Điều 42, người lao động được hưởng trợ cấp mất việc làm (mức cao hơn, ít nhất 02 tháng tiền lương), với điều kiện đủ thời gian làm việc luật định.

Đủ tuổi hưu rồi nghỉ có được trợ cấp thôi việc không?

Người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu khi chấm dứt hợp đồng thường không được hưởng trợ cấp thôi việc, vì đã có chế độ hưu trí bảo đảm theo pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Có được hưởng cả trợ cấp thất nghiệp lẫn trợ cấp thôi việc/mất việc không?

Về nguyên tắc, trợ cấp thất nghiệp (do quỹ bảo hiểm thất nghiệp chi trả) và trợ cấp thôi việc, mất việc (do doanh nghiệp chi trả) là các khoản độc lập. Tuy nhiên thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp không được tính lại vào trợ cấp thôi việc, mất việc, nên cần tính theo từng giai đoạn cụ thể.

Doanh nghiệp chậm trả trợ cấp thì xử lý thế nào?

Người lao động có thể yêu cầu doanh nghiệp thực hiện đúng nghĩa vụ theo Điều 48; nếu không được giải quyết, có thể khiếu nại, hòa giải hoặc khởi kiện theo trình tự giải quyết tranh chấp lao động.

Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm là hai chế định khác nhau về bản chất, điều kiện và mức tính; xác định đúng loại giúp các bên tránh tranh chấp. Nội dung trên chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý cho trường hợp cụ thể. Để được tính toán chính xác theo hồ sơ lao động của mình và các văn bản mới nhất, bạn nên liên hệ luật sư của Công ty Luật TNHH MULTILAW.