Giám hộ – công cụ pháp lý bảo vệ người yếu thế
Không phải ai cũng có đủ khả năng tự mình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân. Trẻ em mất cha mẹ, người mắc bệnh tâm thần hay người có khó khăn trong nhận thức đều cần một cơ chế pháp lý để có người đại diện, chăm sóc và quản lý tài sản thay họ. Chế định giám hộ trong Bộ luật Dân sự 2015 chính là công cụ ấy. Bài viết phân tích khái niệm, đối tượng, điều kiện cùng quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định hiện hành.
Khái niệm giám hộ và căn cứ pháp lý
Theo Điều 46 Bộ luật Dân sự 2015, giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại điều luật về người giám hộ (người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (người được giám hộ).
Chế định giám hộ được quy định tập trung tại Chương III, Phần thứ nhất Bộ luật Dân sự 2015 (từ Điều 46 đến Điều 63), bên cạnh các quy định về đăng ký giám hộ tại Luật Hộ tịch 2014. Đây là căn cứ pháp lý cốt lõi mà người giám hộ và gia đình cần nắm vững.
Ai là người được giám hộ?
Điều 47 Bộ luật Dân sự 2015 xác định các nhóm đối tượng được giám hộ, bao gồm:
- Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ.
- Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; hoặc đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ.
- Người mất năng lực hành vi dân sự (theo quyết định của Tòa án).
- Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Bộ luật cũng phân biệt giám hộ đương nhiên (do luật quy định sẵn, không cần thủ tục cử) và giám hộ được cử, chỉ định. Một người chỉ có thể có một người giám hộ, trừ trường hợp cha, mẹ cùng giám hộ cho con hoặc ông, bà cùng giám hộ cho cháu.
Điều kiện để cá nhân làm người giám hộ
Không phải ai cũng đủ tư cách làm người giám hộ. Điều 49 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cá nhân làm người giám hộ phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
- Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
- Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.
- Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.
Đối với pháp nhân, Điều 50 Bộ luật Dân sự 2015 đặt ra các điều kiện riêng như có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ và có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
Người giám hộ đương nhiên
Bộ luật Dân sự 2015 quy định thứ tự người giám hộ đương nhiên nhằm bảo đảm luôn có người bảo vệ người yếu thế mà không cần thủ tục cử phức tạp:
- Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên (Điều 52): lần lượt là anh ruột cả (hoặc chị ruột cả); nếu không có thì đến anh, chị ruột tiếp theo; trường hợp không có anh, chị ruột thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; tiếp đến là bác, chú, cậu, cô, dì ruột, theo thứ tự và điều kiện luật định.
- Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự (Điều 53): ưu tiên vợ hoặc chồng; nếu không có thì con cả (hoặc con tiếp theo); trường hợp không có thì cha, mẹ, theo thứ tự luật định.
Trường hợp không có người giám hộ đương nhiên thì thực hiện việc cử, chỉ định người giám hộ theo Điều 54 Bộ luật Dân sự 2015. Việc giám hộ còn được giám sát theo Điều 51 nhằm bảo đảm quyền lợi của người được giám hộ.
Nghĩa vụ của người giám hộ
Bộ luật Dân sự 2015 quy định nghĩa vụ của người giám hộ theo từng nhóm đối tượng (các Điều 55, 56, 57), với những nội dung cốt lõi:
- Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ là người chưa thành niên; chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
- Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người chưa thành niên có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch.
- Quản lý tài sản của người được giám hộ.
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
Nghĩa vụ được thiết kế phù hợp với mức độ nhận thức của người được giám hộ; người được giám hộ càng lớn tuổi, có khả năng nhận thức tốt hơn thì phạm vi tự chủ càng rộng và vai trò đại diện của người giám hộ càng thu hẹp tương ứng.
Quyền của người giám hộ và giới hạn khi quản lý tài sản
Điều 58 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người giám hộ có các quyền tương ứng với nghĩa vụ, gồm: sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ; được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản; và đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ.
Tuy nhiên, quyền quản lý tài sản có giới hạn nghiêm ngặt theo Điều 59 Bộ luật Dân sự 2015:
- Người giám hộ phải quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình.
- Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và các giao dịch khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
- Không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác.
- Các giao dịch giữa người giám hộ với chính người được giám hộ liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Đây là những "vành đai an toàn" pháp lý nhằm ngăn chặn tình trạng lạm dụng vị thế người giám hộ để trục lợi từ tài sản của người yếu thế. Vấn đề bảo vệ pháp lý cho nhóm đối tượng này còn được đề cập trong bài viết về giám hộ, bảo vệ pháp lý cho người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi.
Thay đổi, chuyển giao và chấm dứt việc giám hộ
Bộ luật Dân sự 2015 quy định các trường hợp thay đổi người giám hộ (Điều 60) khi người giám hộ không còn đủ điều kiện, chết, hoặc có lý do chính đáng khác; đồng thời quy định thủ tục chuyển giao giám hộ (Điều 61) để bảo đảm liên tục việc bảo vệ người được giám hộ.
Việc giám hộ chấm dứt trong các trường hợp quy định tại Điều 62, tiêu biểu như: người được giám hộ đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; người được giám hộ chết; cha, mẹ của người được giám hộ là người chưa thành niên đã có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình; hoặc người được giám hộ được nhận làm con nuôi. Khi chấm dứt, người giám hộ phải thanh toán tài sản, chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo Điều 63.
Câu hỏi thường gặp
Người giám hộ có được tự bán nhà, đất của người được giám hộ không?
Không được tự ý. Theo Điều 59 Bộ luật Dân sự 2015, việc định đoạt tài sản có giá trị lớn (bao gồm nhà, đất) của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ và phải vì lợi ích của người được giám hộ. Giao dịch trái quy định có nguy cơ bị tuyên vô hiệu.
Ai là người giám hộ đương nhiên của người bị Tòa án tuyên mất năng lực hành vi dân sự?
Theo Điều 53 Bộ luật Dân sự 2015, thứ tự ưu tiên là vợ hoặc chồng; nếu không có thì đến con cả (rồi con tiếp theo); trường hợp không có con thì đến cha, mẹ, theo điều kiện luật định.
Người bị kết án về tội cố ý gây thương tích có được làm người giám hộ không?
Không, nếu chưa được xóa án tích. Điều 49 Bộ luật Dân sự 2015 loại trừ người bị kết án nhưng chưa được xóa án tích về các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác khỏi tư cách làm người giám hộ.
Người giám hộ có được nhận thù lao không?
Bộ luật Dân sự 2015 cho phép người giám hộ được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ và được sử dụng tài sản của người được giám hộ để chi dùng cho nhu cầu thiết yếu của chính họ. Đây không phải "thù lao" theo nghĩa thông thường mà là các khoản chi hợp lý, phải minh bạch và vì lợi ích của người được giám hộ.
Việc giám hộ chấm dứt khi nào?
Theo Điều 62 Bộ luật Dân sự 2015, việc giám hộ chấm dứt khi người được giám hộ đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, khi người được giám hộ chết, khi cha mẹ của người chưa thành niên được giám hộ đã đủ điều kiện thực hiện quyền, nghĩa vụ, hoặc khi người được giám hộ được nhận làm con nuôi.
Trong nhiều trường hợp, chế định giám hộ gắn liền với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên; bạn đọc có thể tham khảo thêm bài bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn.
---
Nội dung trên mang tính tham khảo pháp lý chung, không thay thế cho ý kiến tư vấn đối với từng trường hợp cụ thể. Các số hiệu điều luật được viện dẫn theo Bộ luật Dân sự 2015; Quý khách nên đối chiếu văn bản hiện hành khi áp dụng. Để được tư vấn về đăng ký giám hộ, quản lý tài sản của người được giám hộ hoặc giải quyết tranh chấp liên quan, vui lòng liên hệ đội ngũ luật sư Công ty Luật TNHH MULTILAW.
Để lại bình luận