Khi một người biệt tích hoặc không còn khả năng nhận thức

Trong đời sống, có những tình huống một người vắng mặt lâu ngày không rõ tung tích, hoặc mắc bệnh khiến họ không còn khả năng nhận thức, làm chủ hành vi. Khi đó, các quan hệ tài sản, hôn nhân và nghĩa vụ dân sự liên quan đến họ bị "đóng băng", gây khó khăn cho gia đình và những người có quyền, lợi ích liên quan. Pháp luật dân sự thiết lập cơ chế tuyên bố mất tích và tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết. Bài viết phân tích điều kiện, thủ tục và hệ quả pháp lý của hai chế định này.

Căn cứ pháp lý

Hai chế định nêu trên được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 và Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015:

  • Tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự: Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015.
  • Tuyên bố mất tích: Điều 68 đến Điều 70 Bộ luật Dân sự 2015. Liên quan còn có chế định tuyên bố chết tại Điều 71 đến Điều 73.
  • Trình tự, thủ tục: các quy định về giải quyết việc dân sự trong Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

Điểm chung của cả hai chế định là chỉ Tòa án mới có thẩm quyền ra quyết định, dựa trên yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan, và phải dựa trên căn cứ luật định.

Tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự (Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015)

Theo Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015, khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Kết luận giám định pháp y tâm thần là điều kiện bắt buộc, mang tính bản lề. Tòa án không thể tự đánh giá tình trạng nhận thức mà phải căn cứ vào kết luận chuyên môn của cơ quan giám định có thẩm quyền.

Hệ quả pháp lý quan trọng: mọi giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự đều phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Người này thuộc diện được giám hộ theo Điều 47 Bộ luật Dân sự 2015. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Cần phân biệt ba mức độ mà Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

  • Mất năng lực hành vi dân sự (Điều 22): không thể nhận thức, làm chủ hành vi.
  • Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (Điều 23): người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự.
  • Hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 24): người nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình.

Tuyên bố mất tích (Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015)

Theo Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015, khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết, thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Cách tính thời hạn hai năm được quy định rõ:

  • Tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó.
  • Nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng.
  • Nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

Một điều kiện quan trọng: trước khi tuyên bố mất tích, người yêu cầu phải đã thực hiện thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Đây là bước không thể bỏ qua.

Việc tuyên bố mất tích có ý nghĩa thực tiễn lớn trong quan hệ hôn nhân. Chẳng hạn, khi một bên biệt tích, bên còn lại có thể sử dụng quyết định tuyên bố mất tích làm cơ sở giải quyết ly hôn. Quý khách có thể tham khảo bài viết về ly hôn đơn phương khi một bên mất tích để hiểu rõ mối liên hệ này.

Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích

Điều 69 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích. Về nguyên tắc, người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú tiếp tục quản lý tài sản đó khi người này bị tuyên bố mất tích, đồng thời có các quyền, nghĩa vụ theo quy định. Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích được ly hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích, hoặc cử người khác quản lý theo luật định.

Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là còn sống, theo yêu cầu của người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích (Điều 70). Người này được nhận lại tài sản do người quản lý tài sản chuyển giao sau khi thanh toán chi phí quản lý.

Mối liên hệ với tuyên bố chết

Nếu tình trạng biệt tích kéo dài, người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu tuyên bố chết theo Điều 71 Bộ luật Dân sự 2015. Các mốc thời hạn để tuyên bố chết bao gồm những trường hợp tiêu biểu: sau 03 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống; biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm kể từ ngày chiến tranh kết thúc; bị tai nạn, thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm vẫn không có tin tức; hoặc biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống.

Do các con số về thời hạn này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và có thể được điều chỉnh, Quý khách nên đối chiếu văn bản hiện hành trước khi thực hiện. Việc tuyên bố chết làm phát sinh nhiều hệ quả về thừa kế, hôn nhân; do đó liên quan mật thiết đến thủ tục khai nhận di sản thừa kế và phân chia.

Thủ tục yêu cầu Tòa án và lưu ý thực tiễn

Cả hai loại yêu cầu (tuyên bố mất tích, tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự) đều được giải quyết theo thủ tục việc dân sự quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Về cơ bản, người yêu cầu cần:

  • Chuẩn bị đơn yêu cầu gửi Tòa án có thẩm quyền, kèm tài liệu chứng minh tư cách người có quyền, lợi ích liên quan.
  • Cung cấp chứng cứ phù hợp: với yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự là kết luận giám định pháp y tâm thần; với yêu cầu tuyên bố mất tích là tài liệu chứng minh đã thực hiện thông báo, tìm kiếm và thời gian biệt tích.
  • Tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự theo triệu tập của Tòa án.

Lưu ý thực tiễn: người yêu cầu cần xác định đúng tư cách "người có quyền, lợi ích liên quan"; đơn yêu cầu thiếu chứng cứ về thời hạn biệt tích hoặc chưa thực hiện thủ tục thông báo tìm kiếm là nguyên nhân phổ biến khiến yêu cầu bị đình chỉ hoặc kéo dài.

Câu hỏi thường gặp

Muốn tuyên bố một người mất tích cần biệt tích bao lâu?

Theo Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015, người đó phải biệt tích từ 02 năm liền trở lên, đồng thời đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo pháp luật tố tụng dân sự mà vẫn không có tin tức xác thực còn sống hay đã chết.

Ai có quyền yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự?

Theo Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu. Tòa án ra quyết định trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Người bị tuyên bố mất tích trở về thì xử lý thế nào?

Theo Điều 70 Bộ luật Dân sự 2015, khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực còn sống, Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích theo yêu cầu của người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan. Người này được nhận lại tài sản sau khi thanh toán chi phí quản lý hợp lý.

Tuyên bố mất tích và tuyên bố chết khác nhau ra sao?

Tuyên bố mất tích (Điều 68) áp dụng khi biệt tích từ 02 năm và làm "treo" tạm thời các quan hệ pháp lý. Tuyên bố chết (Điều 71) áp dụng khi thời hạn dài hơn hoặc trong hoàn cảnh đặc biệt, làm chấm dứt tư cách chủ thể và mở ra quan hệ thừa kế. Người bị tuyên bố mất tích chưa được coi là đã chết về mặt pháp lý.

Giao dịch do người mất năng lực hành vi dân sự tự ký có hiệu lực không?

Không. Theo Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Giao dịch do chính người này tự ký có nguy cơ bị vô hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự.

---

Nội dung trên mang tính tham khảo pháp lý chung, không thay thế cho ý kiến tư vấn đối với từng trường hợp cụ thể. Các mốc thời hạn và điều luật được viện dẫn theo Bộ luật Dân sự 2015; Quý khách nên kiểm tra văn bản mới nhất khi áp dụng. Để được hỗ trợ chuẩn bị đơn yêu cầu và chứng cứ, vui lòng liên hệ đội ngũ luật sư Công ty Luật TNHH MULTILAW.