Nghỉ phép năm là quyền lợi cơ bản của người lao động
Nghỉ hằng năm, thường được gọi là nghỉ phép năm, là số ngày nghỉ có hưởng nguyên lương mà người lao động được hưởng sau một thời gian làm việc cho người sử dụng lao động. Đây là quyền lợi được pháp luật lao động bảo đảm nhằm giúp người lao động tái tạo sức lao động, cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Tuy quy định tưởng như đơn giản, nhưng trên thực tế cách tính số ngày phép, xử lý phần phép chưa nghỉ và việc thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ vẫn thường xuyên gây nhầm lẫn, dẫn đến tranh chấp giữa doanh nghiệp và người lao động. Bài viết trình bày quy định về nghỉ phép năm theo Điều 113 và các điều luật liên quan của Bộ luật Lao động 2019.
Căn cứ pháp lý về nghỉ hằng năm
Chế độ nghỉ hằng năm được quy định tại Mục 2 Chương VII Bộ luật Lao động 2019, gồm:
- Điều 113 – Nghỉ hằng năm: số ngày nghỉ, cách tính theo tỷ lệ, sắp xếp lịch nghỉ và thanh toán tiền phép chưa nghỉ.
- Điều 114 – Ngày nghỉ hằng năm tăng thêm theo thâm niên làm việc.
Bên cạnh đó, Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn cách tính số ngày nghỉ hằng năm trong một số trường hợp đặc biệt và các khoảng thời gian được coi là thời gian làm việc để tính ngày nghỉ hằng năm. Việc áp dụng cần đối chiếu cả Bộ luật và nghị định hướng dẫn.
Số ngày nghỉ phép năm theo Điều 113
Theo khoản 1 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019, người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động với số ngày như sau:
| Đối tượng, điều kiện làm việc | Số ngày nghỉ phép năm |
|---|---|
| Người làm công việc trong điều kiện bình thường | 12 ngày làm việc |
| Người lao động chưa thành niên, người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm | 14 ngày làm việc |
| Người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm | 16 ngày làm việc |
Số ngày phép ở đây được tính theo ngày làm việc, không bao gồm các ngày nghỉ hằng tuần và ngày nghỉ lễ, tết. Đây là điểm cần lưu ý để tránh nhầm lẫn giữa "ngày làm việc" và "ngày dương lịch" khi bố trí lịch nghỉ.
Nghỉ phép khi chưa làm đủ 12 tháng
Trường hợp người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc. Theo hướng dẫn tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP, số ngày nghỉ hằng năm trong trường hợp này được xác định bằng cách lấy số ngày nghỉ hằng năm cộng với số ngày tăng theo thâm niên (nếu có), chia cho 12 tháng, rồi nhân với số tháng làm việc thực tế. Kết quả có thể được làm tròn theo hướng dẫn.
Ví dụ, người làm công việc trong điều kiện bình thường có 12 ngày phép/năm; nếu làm việc được 06 tháng thì được nghỉ tương ứng khoảng 06 ngày phép. Cách tính theo tỷ lệ này áp dụng cho cả người mới vào làm lẫn người nghỉ việc giữa năm.
Nghỉ phép năm tăng theo thâm niên (Điều 114)
Ngoài số ngày cơ bản, Điều 114 Bộ luật Lao động 2019 quy định chế độ nghỉ phép năm tăng thêm theo thâm niên: cứ đủ 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm của người lao động được tăng thêm tương ứng 01 ngày.
Như vậy, người gắn bó lâu dài với doanh nghiệp sẽ có thêm ngày phép, tạo động lực khuyến khích sự ổn định trong quan hệ lao động. Doanh nghiệp cần theo dõi, cập nhật số năm làm việc của từng người lao động để tính đúng số ngày phép được hưởng, tránh phát sinh khiếu nại về sau.
Các khoảng thời gian được tính để hưởng phép năm
Một điểm dễ bị bỏ sót là không phải chỉ thời gian trực tiếp làm việc mới được tính để hưởng nghỉ hằng năm. Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định một số khoảng thời gian tuy người lao động không trực tiếp làm việc nhưng vẫn được coi là thời gian làm việc để tính số ngày nghỉ hằng năm, chẳng hạn như thời gian thử việc nếu người lao động tiếp tục làm việc, thời gian nghỉ việc riêng có hưởng lương, thời gian nghỉ thai sản, thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau và một số trường hợp khác trong giới hạn luật định. Doanh nghiệp nên rà soát kỹ các mốc thời gian này khi tính phép để bảo đảm quyền lợi cho người lao động.
Sắp xếp lịch nghỉ, gộp phép và thời gian đi đường
Theo Điều 113 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động có trách nhiệm quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động biết. Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.
Ngoài ra, khi nghỉ hằng năm mà chưa đến kỳ trả lương, người lao động được tạm ứng tiền lương theo quy định. Trường hợp người lao động khi nghỉ hằng năm đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm. Việc thể hiện chế độ nghỉ trong hợp đồng, quy chế nội bộ cần đồng bộ; tham khảo thêm bài thời giờ làm việc và làm thêm giờ theo BLLĐ 2019.
Thanh toán tiền phép năm chưa nghỉ
Khi thôi việc hoặc bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm, người lao động được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ theo Điều 113 Bộ luật Lao động 2019. Đây là quy định bảo vệ quyền lợi người lao động khi chấm dứt quan hệ lao động.
Cần lưu ý, so với quy định trước đây, Bộ luật Lao động 2019 giới hạn việc thanh toán tiền cho ngày phép chưa nghỉ chủ yếu trong trường hợp thôi việc hoặc mất việc làm; đối với người lao động vẫn tiếp tục làm việc, doanh nghiệp và người lao động nên bố trí nghỉ hết phép trong năm hoặc thỏa thuận phương án phù hợp. Việc xác định rõ các khoản tiền lương làm căn cứ tính tiền phép cũng rất quan trọng; xem thêm bài tiền lương, thưởng và phụ cấp trong hợp đồng lao động. Chế độ phép chưa nghỉ cũng thường được rà soát khi chấm dứt hợp đồng, có thể tham khảo bài chấm dứt hợp đồng lao động: 13 trường hợp theo BLLĐ 2019.
Câu hỏi thường gặp
Làm đủ một năm được nghỉ phép bao nhiêu ngày?
Người làm công việc trong điều kiện bình thường được 12 ngày làm việc; 14 ngày đối với lao động chưa thành niên, người khuyết tật hoặc người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; 16 ngày đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
Chưa làm đủ 12 tháng có được nghỉ phép năm không?
Có. Số ngày nghỉ hằng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số tháng đã làm việc cho người sử dụng lao động, theo hướng dẫn tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
Nghỉ việc mà chưa dùng hết phép năm thì xử lý thế nào?
Người lao động được thanh toán tiền lương cho những ngày phép năm chưa nghỉ khi thôi việc hoặc bị mất việc làm, theo Điều 113 Bộ luật Lao động 2019.
Số ngày phép năm có tăng theo thời gian làm việc không?
Có. Theo Điều 114 Bộ luật Lao động 2019, cứ đủ 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm được tăng thêm tương ứng 01 ngày.
Người lao động có được gộp phép nhiều năm để nghỉ một lần không?
Có. Người lao động được thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.
Hiểu đúng quy định về nghỉ phép năm giúp người lao động bảo vệ quyền lợi chính đáng và giúp doanh nghiệp quản lý nhân sự minh bạch, hạn chế tranh chấp. Nội dung trên chỉ mang tính tham khảo, không thay thế cho ý kiến tư vấn đối với từng trường hợp cụ thể. Để được hỗ trợ về chế độ nghỉ và tiền lương, bạn nên liên hệ luật sư của Công ty Luật TNHH MULTILAW.
Để lại bình luận