Hai nhóm quyền dễ nhầm lẫn
Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, quyền tác giả và quyền liên quan là hai nhóm quyền gắn bó chặt chẽ nhưng có chủ thể, đối tượng và nội dung khác nhau. Một bài hát khi được đưa đến công chúng thường kéo theo nhiều lớp quyền: quyền của nhạc sĩ đối với ca khúc, quyền của ca sĩ đối với phần trình bày, quyền của nhà sản xuất đối với bản ghi và quyền của đài đối với chương trình phát sóng. Việc phân biệt rõ giúp các bên trong chuỗi sáng tạo, sản xuất và phổ biến tác phẩm biết mình được bảo hộ những gì, được khai thác đến đâu và có nghĩa vụ tôn trọng quyền của ai. Đây là nền tảng để soạn thảo hợp đồng chính xác và phòng tránh tranh chấp bản quyền.
Quyền tác giả
Theo Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT được sửa đổi, bổ sung năm 2022), quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản (Điều 18 Luật SHTT):
- Quyền nhân thân (Điều 19 Luật SHTT): quyền đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác xuyên tạc, cắt xén gây phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả. Phần lớn các quyền nhân thân này gắn liền với tác giả và không thể chuyển giao (riêng quyền công bố có thể được chuyển giao).
- Quyền tài sản (Điều 20 Luật SHTT): quyền làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao chép; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao; truyền đạt tác phẩm đến công chúng; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính. Quyền tài sản có thể chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng và là cơ sở để tác giả, chủ sở hữu thu lợi ích kinh tế; tổ chức, cá nhân khai thác các quyền này phải xin phép và trả tiền bản quyền, trừ các trường hợp ngoại lệ luật định.
Quyền liên quan đến quyền tác giả
Quyền liên quan (còn gọi là quyền kề cận) là quyền của các chủ thể góp phần định hình và truyền tải tác phẩm đến công chúng. Ba nhóm chủ thể chính được bảo hộ gồm:
- Người biểu diễn: ca sĩ, nhạc công, vũ công, diễn viên và người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật. Người biểu diễn được bảo hộ cả quyền nhân thân (được giới thiệu tên, bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn) và quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn (Điều 29 Luật SHTT).
- Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình: tổ chức, cá nhân định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc âm thanh, hình ảnh khác (Điều 30 Luật SHTT).
- Tổ chức phát sóng: các đài phát thanh, truyền hình đối với chương trình phát sóng của mình (Điều 31 Luật SHTT).
Điểm mấu chốt là quyền liên quan chỉ được bảo hộ với điều kiện không gây phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc. Nghĩa là người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi hay tổ chức phát sóng khi thực hiện quyền của mình vẫn phải tôn trọng và, nếu cần, xin phép, trả tiền cho tác giả tác phẩm được sử dụng.
So sánh quyền tác giả và quyền liên quan
| Tiêu chí | Quyền tác giả | Quyền liên quan |
|---|---|---|
| Chủ thể | Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả | Người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi, tổ chức phát sóng |
| Đối tượng | Tác phẩm gốc | Cuộc biểu diễn, bản ghi âm/ghi hình, chương trình phát sóng |
| Căn cứ phát sinh | Khi tác phẩm được định hình | Khi cuộc biểu diễn/bản ghi/chương trình được định hình, thực hiện |
| Điều kiện | Không phương hại quyền của người khác | Không phương hại quyền tác giả của tác phẩm gốc |
| Nhóm quyền | Quyền nhân thân và quyền tài sản | Chủ yếu quyền tài sản; người biểu diễn có thêm quyền nhân thân |
Thời hạn bảo hộ
Về thời hạn, các quyền nhân thân gắn liền với tác giả (quyền đặt tên, đứng tên, bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm) được bảo hộ vô thời hạn. Quyền công bố và quyền tài sản của quyền tác giả có thời hạn xác định theo Điều 27 Luật SHTT: đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh, thời hạn được tính theo số năm kể từ khi công bố; đối với các loại hình khác, thời hạn thường được tính theo suốt cuộc đời tác giả và một số năm sau khi tác giả qua đời. Quyền liên quan cũng có thời hạn bảo hộ riêng theo Điều 34 Luật SHTT, tính từ thời điểm cuộc biểu diễn, bản ghi hoặc chương trình phát sóng được định hình hoặc công bố.
Vì các mốc thời gian cụ thể được quy định chi tiết và có thể được điều chỉnh qua các lần sửa đổi, các bên nên kiểm tra văn bản pháp luật hiện hành khi xác định chính xác thời điểm hết hạn bảo hộ trong từng trường hợp.
Ý nghĩa thực tiễn với doanh nghiệp
Với doanh nghiệp sản xuất nội dung, âm nhạc, phim ảnh, quảng cáo hay phần mềm, việc phân định rõ quyền tác giả và quyền liên quan giúp soạn thảo hợp đồng chính xác, tránh tranh chấp về việc ai được khai thác, phân chia thù lao và cấp phép sử dụng. Chẳng hạn, khi phát hành một MV, doanh nghiệp cần làm rõ quyền của nhạc sĩ, ca sĩ, nhà sản xuất bản ghi và các bên góp phần khác. Bên cạnh đó, quản trị tốt các quyền này còn liên quan chặt tới việc bảo vệ bí mật kinh doanh trong doanh nghiệp, bởi nhiều sản phẩm sáng tạo vừa mang giá trị bản quyền vừa chứa thông tin, quy trình cần giữ kín. Việc xây dựng chính sách sở hữu trí tuệ nội bộ và mẫu hợp đồng chuyển giao quyền rõ ràng là công cụ phòng ngừa rủi ro hữu hiệu.
Câu hỏi thường gặp
Ca sĩ hát lại bài của người khác có vi phạm quyền tác giả không?
Nếu biểu diễn nhằm mục đích thương mại, ca sĩ (hoặc bên tổ chức) cần được phép và trả tiền bản quyền cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của bài hát, trừ các trường hợp ngoại lệ luật định. Bản thân ca sĩ khi biểu diễn cũng phát sinh quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn của mình.
Một sản phẩm có thể vừa có quyền tác giả vừa có quyền liên quan không?
Có. Ví dụ một bản ghi âm bài hát: quyền tác giả thuộc về nhạc sĩ viết bài, quyền liên quan thuộc về ca sĩ biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi. Việc khai thác bản ghi phải tôn trọng đồng thời cả hai nhóm quyền.
Doanh nghiệp thuê nhân viên sáng tạo thì ai giữ quyền?
Thông thường, quyền tài sản thuộc về bên giao nhiệm vụ hoặc bên thuê nếu có thỏa thuận trong hợp đồng, còn một số quyền nhân thân vẫn gắn với tác giả. Vì vậy, điều khoản về quyền sở hữu và chuyển giao quyền nên được ghi rõ trong hợp đồng lao động hoặc hợp đồng dịch vụ ngay từ đầu.
Sử dụng một đoạn nhạc ngắn cho video có cần xin phép không?
Trên nguyên tắc, việc sử dụng tác phẩm được bảo hộ (kể cả một phần) cho mục đích thương mại cần được phép của chủ sở hữu quyền. Một số trường hợp sử dụng hợp lý được luật cho phép không phải xin phép, nhưng phạm vi khá hẹp và cần đánh giá cẩn trọng theo quy định hiện hành.
Quyền liên quan có cần đăng ký mới được bảo hộ không?
Tương tự quyền tác giả, quyền liên quan phát sinh khi cuộc biểu diễn, bản ghi hoặc chương trình phát sóng được định hình mà không bắt buộc đăng ký. Tuy nhiên, việc đăng ký giúp tạo lợi thế chứng cứ khi có tranh chấp.
Kết luận
Quyền tác giả và quyền liên quan cùng tạo nên hệ thống bảo hộ khép kín cho quá trình sáng tạo và phổ biến tác phẩm: một bên bảo vệ người sáng tạo, một bên bảo vệ những chủ thể đưa tác phẩm đến công chúng. Nắm rõ ranh giới hai nhóm quyền là điều kiện để khai thác hợp pháp và tránh xâm phạm. Nội dung trên mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn cho trường hợp cụ thể và cần đối chiếu với văn bản pháp luật hiện hành. Để xây dựng chiến lược quản trị tài sản trí tuệ phù hợp, doanh nghiệp nên liên hệ luật sư Công ty Luật TNHH MULTILAW hoặc tham khảo dịch vụ tư vấn pháp lý về sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp.
Để lại bình luận