Vì sao chứng cứ quyết định thắng thua trong vụ án dân sự?
Trong hoạt động xét xử dân sự, tòa án không tự đi điều tra thay cho các bên như trong vụ án hình sự. Thẩm phán ra phán quyết trên cơ sở những gì các bên xuất trình và những gì được thu thập hợp pháp trong hồ sơ. Vì vậy, một yêu cầu dù có căn cứ trên thực tế nhưng không được chứng minh bằng chứng cứ hợp lệ thì vẫn có nguy cơ bị bác. Hiểu đúng nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh là bước chuẩn bị đầu tiên, mang tính sống còn, đối với bất kỳ đương sự nào tham gia tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại, lao động hay hôn nhân gia đình.
Nguyên tắc "ai yêu cầu thì người đó chứng minh"
Khác với tố tụng hình sự (nơi cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm chứng minh tội phạm), trong tố tụng dân sự nguyên tắc cơ bản là đương sự tự chịu trách nhiệm chứng minh cho yêu cầu của mình. Người khởi kiện đòi nợ phải chứng minh có khoản nợ và nghĩa vụ trả nợ; người bị kiện muốn phản bác phải đưa ra chứng cứ ngược lại; người có yêu cầu độc lập cũng phải chứng minh cho yêu cầu đó.
Nguyên tắc "cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự" được ghi nhận tại Điều 6 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Theo đó, đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, hợp pháp. Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 cụ thể hóa nghĩa vụ chứng minh: người nào đưa ra yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của người khác phải có nghĩa vụ chứng minh, trừ một số trường hợp được luật miễn hoặc chuyển nghĩa vụ chứng minh sang bên kia.
Những trường hợp được miễn hoặc chuyển nghĩa vụ chứng minh
Điều 91 cũng dự liệu các ngoại lệ quan trọng mà đương sự nên nắm để không "gánh oan" nghĩa vụ chứng minh:
- Người tiêu dùng khởi kiện thì không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh; bên bị kiện phải chứng minh mình không có lỗi theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Người lao động khởi kiện vụ án lao động mà không cung cấp được một số tài liệu do người sử dụng lao động quản lý, giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, xuất trình.
- Đương sự có nghĩa vụ chứng minh nhưng viện dẫn lý do để từ chối thì bên phản đối phải chứng minh; những tình tiết, sự kiện mà pháp luật quy định không phải chứng minh (sự việc rõ ràng ai cũng biết, đã được tòa án xác định trong bản án có hiệu lực, được công chứng, chứng thực…) thì không cần chứng minh lại.
Việc xác định đúng ai gánh nghĩa vụ chứng minh trong từng tình huống ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược thu thập hồ sơ.
Chứng cứ là gì và gồm những nguồn nào?
Theo Điều 93 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, chứng cứ là những gì có thật, được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do tòa án thu thập theo trình tự luật định, được dùng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án và giải quyết vụ việc. Điều 94 liệt kê các nguồn chứng cứ, phổ biến gồm:
- Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử (hợp đồng, thư từ, tin nhắn, email, ghi âm, video, dữ liệu chuyển khoản…).
- Vật chứng.
- Lời khai của đương sự, người làm chứng.
- Kết luận giám định, biên bản định giá tài sản.
- Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ; văn bản công chứng, chứng thực; các nguồn khác mà pháp luật quy định.
Điều quan trọng theo Điều 95 là một tài liệu chỉ được coi là chứng cứ khi bảo đảm tính xác thực và được giao nộp, xác định hợp lệ: tài liệu đọc được phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp; băng ghi âm, ghi hình phải kèm văn bản trình bày về xuất xứ; tài liệu tiếng nước ngoài phải kèm bản dịch được công chứng, chứng thực.
Thu thập, giao nộp và khi nào cần tòa án hỗ trợ
Đương sự có quyền tự mình hoặc thông qua luật sư thu thập chứng cứ. Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ cho tòa án được thực hiện theo Điều 96: đương sự nộp trong thời hạn do thẩm phán ấn định; nếu nộp muộn thì phải nêu lý do và, đối với tài liệu giao nộp sau thời hạn, phải giải trình về việc chậm giao nộp. Khi giao nộp, tòa án lập biên bản; đương sự có quyền giữ bản chính và giao bản sao đã được đối chiếu.
Khi đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà vẫn không thể tự thu thập chứng cứ (ví dụ tài liệu do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nắm giữ mà họ không cung cấp), đương sự có quyền yêu cầu tòa án hỗ trợ thu thập theo Điều 97 và có quyền đề nghị tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ chứng cứ phải cung cấp (Điều 106). Ngoài ra, đương sự có thể yêu cầu tòa án trưng cầu giám định, định giá tài sản hoặc xem xét, thẩm định tại chỗ để làm rõ các tình tiết còn tranh chấp.
Hệ quả pháp lý khi không cung cấp được chứng cứ
Đây là điểm đương sự cần đặc biệt lưu tâm. Điều 91 nêu rõ: đương sự có nghĩa vụ chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì tòa án giải quyết vụ việc theo những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ, đồng nghĩa với việc yêu cầu của người đó có nguy cơ không được chấp nhận. Trên thực tiễn, nhiều tranh chấp cho vay, mua bán bị thua kiện không phải vì không có quan hệ giao dịch, mà vì bên có quyền không lưu giữ được giấy vay, biên nhận, sao kê chuyển khoản hay tin nhắn xác nhận.
Vì vậy, việc lưu giữ đầy đủ giấy tờ, hợp đồng, biên nhận, chứng từ thanh toán ngay từ khi xác lập giao dịch có ý nghĩa quyết định. Với các trao đổi qua tin nhắn, email, nên cân nhắc lập vi bằng để cố định chứng cứ. Bạn có thể tham khảo thêm về hồ sơ, chứng cứ khi khởi kiện đòi nợ và trình tự tố tụng dân sự khi khởi kiện để chuẩn bị hồ sơ chặt chẽ ngay từ đầu.
Lưu ý thực tiễn để bảo vệ quyền lợi
- Xác lập giao dịch bằng văn bản, lưu bản gốc; hạn chế thỏa thuận miệng.
- Lưu lại toàn bộ chứng từ chuyển khoản, hóa đơn, biên bản làm việc, phụ lục.
- Với dữ liệu điện tử quan trọng, lập vi bằng hoặc yêu cầu giám định để tăng giá trị chứng minh.
- Chủ động giao nộp chứng cứ đúng thời hạn thẩm phán ấn định; không "giấu bài" để dùng ở phiên xử vì có thể phải giải trình lý do chậm giao nộp.
- Khi không tự thu thập được, kịp thời làm văn bản đề nghị tòa án hỗ trợ, tránh để quá thời điểm.
Câu hỏi thường gặp
Tin nhắn, email có được coi là chứng cứ không?
Có. Dữ liệu điện tử như tin nhắn, email, ghi âm là một nguồn chứng cứ theo Điều 94 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, nhưng cần bảo đảm tính xác thực và được giao nộp hợp lệ; trong nhiều trường hợp nên lập vi bằng hoặc giám định để tăng giá trị chứng minh.
Không tự thu thập được chứng cứ thì làm sao?
Sau khi đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thu thập được, đương sự có quyền yêu cầu tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ theo Điều 97 và đề nghị tòa án buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ chứng cứ phải cung cấp theo Điều 106.
Nộp chứng cứ muộn có bị bác không?
Đương sự nên nộp trong thời hạn thẩm phán ấn định. Nếu nộp sau thời hạn thì phải giải trình lý do chính đáng về việc chậm giao nộp; tòa án sẽ xem xét chấp nhận hay không theo quy định.
Bản photocopy có được chấp nhận làm chứng cứ không?
Tài liệu đọc được chỉ có giá trị khi là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp, hoặc bản sao được đối chiếu với bản chính. Bản photocopy không được xác thực dễ bị nghi ngờ về tính xác thực.
Trong vụ án tiêu dùng, người tiêu dùng có phải chứng minh lỗi của doanh nghiệp không?
Không. Theo quy định, người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh; bên bị kiện phải chứng minh mình không có lỗi.
Nội dung trên chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn cho từng vụ việc cụ thể; một số quy định có thể được sửa đổi nên cần đối chiếu văn bản mới nhất. Để đánh giá chứng cứ và xây dựng hồ sơ khởi kiện vững chắc, bạn nên liên hệ luật sư MULTILAW.
Để lại bình luận