Vì sao chứng cứ quyết định kết quả vụ án dân sự

Trong tố tụng dân sự, Tòa án không tự suy đoán mà phải căn cứ vào chứng cứ để xác định sự thật khách quan của vụ án. Đương sự có yêu cầu đúng nhưng không chứng minh được vẫn có thể không được chấp nhận. Vì vậy, hiểu đúng khái niệm chứng cứ, biết các nguồn chứng cứ hợp pháp, nắm rõ nghĩa vụ chứng minh và thủ tục giao nộp là điều kiện then chốt để bảo vệ quyền lợi. Bài viết phân tích các quy định cốt lõi của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS 2015) về vấn đề này.

Chứng cứ trong tố tụng dân sự là gì

Theo Điều 93 BLTTDS 2015, chứng cứ là những gì có thật, được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập theo trình tự, thủ tục luật định, được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không.

Một tài liệu, thông tin chỉ được coi là chứng cứ khi hội đủ ba thuộc tính:

  • Tính khách quan: có thật, tồn tại độc lập, không bịa đặt hay ngụy tạo.
  • Tính liên quan: có mối liên hệ với các tình tiết cần chứng minh của vụ án.
  • Tính hợp pháp: được thu thập, bảo quản, giao nộp đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.

Thiếu một trong ba thuộc tính, tài liệu sẽ không được Tòa án chấp nhận là chứng cứ, dù nội dung có vẻ có lợi cho đương sự.

Các nguồn chứng cứ

Điều 94 BLTTDS 2015 liệt kê các nguồn của chứng cứ, phổ biến gồm:

  • Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; dữ liệu điện tử.
  • Vật chứng.
  • Lời khai của đương sự; lời khai của người làm chứng.
  • Kết luận giám định.
  • Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ.
  • Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản.
  • Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập (ví dụ vi bằng).
  • Văn bản công chứng, chứng thực.
  • Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.

Điều 95 BLTTDS 2015 quy định điều kiện để mỗi loại nguồn được xác định là chứng cứ: ví dụ tài liệu đọc được phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận; dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, thông điệp dữ liệu, thư điện tử và các hình thức tương tự. Đối với dữ liệu điện tử (tin nhắn, email, file ghi âm, sao kê điện tử), cần đặc biệt lưu ý cách thu thập, lưu giữ và trình bày để bảo đảm tính xác thực, tránh bị nghi ngờ chỉnh sửa.

Nghĩa vụ chứng minh thuộc về ai

Nguyên tắc cốt lõi của tố tụng dân sự là đương sự có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình. Theo Điều 91 BLTTDS 2015, đương sự đưa ra yêu cầu thì có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó; đương sự phản đối yêu cầu của người khác thì phải thể hiện bằng văn bản và cung cấp chứng cứ chứng minh cho sự phản đối của mình.

Bên cạnh nguyên tắc chung, Điều 91 cũng dự liệu một số trường hợp đảo nghĩa vụ chứng minh hoặc miễn nghĩa vụ chứng minh, ví dụ:

  • Người tiêu dùng khởi kiện thì không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh; nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên bị kiện.
  • Trong tranh chấp lao động mà người sử dụng lao động có nghĩa vụ theo luật, thì bên đó phải chứng minh.
  • Đương sự có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ mà không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không giao nộp.

Tuy nhiên, về cơ bản, bên khởi kiện phải chủ động thu thập và cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu. Cách chuẩn bị chứng cứ cho một tranh chấp cụ thể được trình bày tại bài hồ sơ, chứng cứ khởi kiện đòi nợ.

Giao nộp và thu thập chứng cứ

Về giao nộp, Điều 96 BLTTDS 2015 quy định trong quá trình tố tụng, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; nếu tài liệu, chứng cứ đã giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu giao nộp bổ sung. Việc giao nộp được lập thành biên bản. Đặc biệt, khi giao nộp cho Tòa án, đương sự phải sao gửi tài liệu, chứng cứ cho các đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ để bảo đảm quyền tranh tụng, trừ tài liệu liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, kinh doanh, đời tư theo quy định.

Khi đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ, họ có quyền yêu cầu Tòa án thu thập hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp. Theo Điều 97 BLTTDS 2015, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ như: lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; đối chất; trưng cầu giám định; định giá tài sản; xem xét, thẩm định tại chỗ; ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu.

Thời điểm giao nộp và bảo quản chứng cứ

Về thời điểm, đương sự nên giao nộp chứng cứ càng sớm càng tốt, tốt nhất là trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Chứng cứ giao nộp sau khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà không có lý do chính đáng thì Tòa án có thể không chấp nhận, trừ trường hợp luật có quy định khác. Vì vậy, ngay khi phát sinh tranh chấp, đương sự nên thu thập, tập hợp và bảo quản đầy đủ tài liệu, tránh để thất lạc hoặc bị chỉnh sửa, hư hỏng. Với các chứng cứ dễ tiêu hủy hoặc khó thu thập (dữ liệu điện tử, hàng hóa hư hỏng...), nên lập vi bằng hoặc yêu cầu biện pháp bảo quản kịp thời.

Câu hỏi thường gặp

Tin nhắn, email có được coi là chứng cứ không?

Có. Tin nhắn, email, file ghi âm là dữ liệu điện tử và là một nguồn chứng cứ hợp pháp theo Điều 94 và Điều 95 BLTTDS 2015. Tuy nhiên cần bảo đảm tính xác thực, thể hiện rõ nội dung, thời gian và các bên liên quan; khi cần, có thể lập vi bằng hoặc trưng cầu giám định để tăng giá trị chứng minh.

Không có chứng cứ giấy tờ thì có kiện được không?

Vẫn có thể khởi kiện, nhưng khả năng được chấp nhận yêu cầu phụ thuộc vào chứng cứ. Có thể sử dụng lời khai người làm chứng, dữ liệu điện tử, kết quả đối chất và các nguồn khác. Việc thiếu chứng cứ vững chắc khiến việc chứng minh khó khăn hơn nhiều, do đó nên tập hợp mọi tài liệu có thể ngay từ đầu.

Có thể yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ giúp không?

Được, khi đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không tự thu thập được. Đương sự làm đơn đề nghị Tòa án thu thập, hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ cung cấp chứng cứ theo Điều 97 BLTTDS 2015.

Bản photo không công chứng có giá trị chứng cứ không?

Theo Điều 95 BLTTDS 2015, tài liệu đọc được được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp, hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận. Bản photo không được chứng thực thường có giá trị chứng minh yếu và có thể bị bên kia phản đối; nên xuất trình bản chính để đối chiếu.

Bên giữ chứng cứ cố tình không giao nộp thì xử lý thế nào?

Đương sự có thể yêu cầu Tòa án buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ cung cấp chứng cứ. Trường hợp không cung cấp mà không có lý do chính đáng, chủ thể đó có thể bị xử lý theo quy định, và Tòa án có thể căn cứ vào các chứng cứ, tình tiết khác để giải quyết, đồng thời bên có nghĩa vụ giao nộp phải chịu hậu quả bất lợi của việc không giao nộp.

Kết luận

Chứng cứ là "xương sống" của vụ án dân sự: bên chứng minh tốt hơn thường có lợi thế. Chuẩn bị chứng cứ bảo đảm khách quan, liên quan và hợp pháp, đồng thời giao nộp đúng thủ tục và đúng thời điểm là yếu tố then chốt bảo vệ quyền lợi. Nội dung trên chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn cho trường hợp cụ thể; bạn nên liên hệ luật sư MULTILAW hoặc xem thêm bài khởi kiện đòi nợ: trình tự tố tụng dân sự.